TỔNG QUAN GIẢI PHÁP - TÒA ÁN

Giải pháp công nghệ cho Toà án: năm lớp bài toán của một không gian nơi lời nói trở thành chứng cứ

Trong hầu hết các công trình, nếu âm thanh kém thì người nghe thấy khó chịu. Trong một phòng xử án, nếu âm thanh kém thì một lời khai có thể bị nghe sót, ghi sai, hoặc không ghi được. Hậu quả không dừng ở trải nghiệm, nó chạm vào giá trị pháp lý của phiên toà.

Đó là khác biệt căn bản khiến công trình toà án không thể thiết kế theo cùng một tư duy với hội trường hay phòng họp. Phòng xử án có sơ đồ vị trí do luật tố tụng quy định, có nghĩa vụ ghi hình ghi âm do luật định, có ba luồng người không được phép cắt nhau, và có một người vận hành thiết bị vốn không phải kỹ sư kỹ thuật mà là thư ký phiên toà.

Bài viết này mô tả năm lớp bài toán cần nhìn thấy trước khi bàn tới danh mục thiết bị, dành cho Toà án nhân dân các cấp, ban quản lý dự án và đơn vị tư vấn thiết kế công trình toà án.

Lớp 1. Lời nói tại phiên toà chỉ tồn tại nếu nghe được và ghi được

Phòng xử án là một trong những không gian khó nhất về mặt âm thanh, vì bốn lý do cùng lúc. Người nói phân tán ở nhiều vị trí cố định cách xa nhau. Người khai thường nói nhỏ, quay mặt về phía hội đồng chứ không về phía micro. Kiến trúc phòng xử theo truyền thống dùng nhiều bề mặt cứng, gỗ ốp, đá, trần cao, tạo hồi âm dài. Và mọi thứ diễn ra một lần, không có buổi tổng duyệt.

Vì thế hệ âm thanh phòng xử phải được bố trí theo sơ đồ tố tụng, không theo sơ đồ nội thất: hội đồng xét xử, thư ký, đại diện viện kiểm sát, người bào chữa, bục khai báo, khu vực người tham gia tố tụng, khu vực người tham dự. Mỗi vị trí là một kênh riêng để về sau bản ghi phân biệt được ai nói. Chủ toạ cần quyền ưu tiên tuyệt đối, tắt được các micro khác bằng lệnh phần cứng chứ không chỉ bằng phần mềm. Nền tảng cho lớp này nằm ở hệ hội nghị, biểu quyết và phiên dịch cùng nhóm thiết bị hội thảo tương ứng.

Có một ràng buộc vật lý ít được nói ra. Khoảng cách từ miệng người nói tới micro tuân theo định luật bình phương nghịch đảo: đưa micro từ 20cm ra 160cm là mất khoảng 18dB tín hiệu, tương đương phải bù lại bằng 64 lần công suất, và đó chính là lúc hệ thống chớm hú. Bá Hùng có kỹ thuật chống hú đa tầng cho phép đặt micro xa tới 160cm, nhưng cần nói thẳng rằng đó là trần kỹ thuật trong điều kiện tối ưu, gồm phòng đủ lớn, trần đủ cao và âm học đã được xử lý, không phải cấu hình mặc định cho mọi phòng xử. Với một phòng xử thông thường, giá trị thực tế nằm ở chỗ khác: ở khoảng cách micro bình thường, biên an toàn chống hú rộng hơn hẳn, nên chủ toạ không phải nhắc người khai nói to hơn, và thư ký không phải vừa ghi vừa canh nút chỉnh.

Phần còn lại thuộc về kiến trúc chứ không thuộc về thiết bị. Thời gian hồi âm của phòng xử được quyết định bởi vật liệu trần, tường và sàn, tức là bởi vật liệu và giải pháp âm học cho công trình, và nó được chốt trên bản vẽ kiến trúc trước khi có ai đi mua micro. Một phòng xử ốp cứng toàn bộ sẽ lấy đi độ rõ lời nói mà không thiết bị nào bù lại được hoàn toàn.

Lớp 2. Bản ghi chỉ có giá trị khi không ai sửa được và ai cũng biết nó xảy ra lúc nào

Theo Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, toà án ghi âm lời nói và ghi hình ảnh toàn bộ diễn biến phiên toà, phiên họp để phục vụ nhiệm vụ chuyên môn, đồng thời việc ghi âm ghi hình của người khác tại phiên toà bị giới hạn và phải có sự đồng ý theo quy định. Nói cách khác, hệ thống ghi hình phòng xử không còn là tiện ích nâng cấp, nó là hạ tầng để thực hiện một nghĩa vụ.

Khi đã là hạ tầng pháp lý, ba yêu cầu kỹ thuật trở nên bắt buộc, và cả ba đều dễ bị bỏ sót trong hồ sơ thầu.

Thứ nhất là đồng bộ thời gian. Bản ghi âm, bản ghi hình từ nhiều camera, nhật ký hệ thống và log kiểm soát ra vào phải lấy giờ từ một nguồn duy nhất trong nội bộ. Nếu mỗi thiết bị tự giữ giờ riêng, các mốc thời gian sẽ lệch nhau vài giây tới vài phút sau vài tháng chạy, và khi cần đối chiếu một chi tiết, chính sự lệch đó làm suy yếu giá trị của toàn bộ tập tài liệu.

Thứ hai là toàn vẹn và phân quyền. Ai được xem, ai được trích xuất, mỗi lần truy cập có để lại dấu vết không, bản ghi được lưu bao lâu rồi xử lý ra sao, có sao lưu ở vị trí vật lý thứ hai không. Đây là phần thuộc hạ tầng và an ninh mạng, và nguyên tắc chủ đạo trong môi trường tư pháp là xử lý tại chỗ, không đẩy dữ liệu phiên toà lên nền tảng công cộng đặt ngoài tầm kiểm soát của toà án.

Thứ ba là khả năng trích xuất đúng đoạn cần dùng, gắn với mốc thời gian và với danh mục vụ việc, thay vì phải giao cả phiên vài chục giờ. Phần này thuộc lớp phần mềm quản lý phiên toà mà mỗi hệ thống toà án lựa chọn theo quy định của ngành. Vai trò của chúng tôi ở đây là lớp hạ tầng nghe nhìn, mạng, nguồn và tích hợp bên dưới, cùng với thiết bị hội nghị truyền hình, cộng tác và xử lý tín hiệu để dòng âm thanh, hình ảnh đi vào phần mềm đó ở đúng chất lượng và đúng cấu trúc kênh.

Lớp 3. Phiên toà trực tuyến là một phòng xử án bị kéo dài ra nhiều địa điểm

Nghị quyết 33/2021/QH15 của Quốc hội về tổ chức phiên toà trực tuyến, cùng các văn bản hướng dẫn liên ngành, đã đưa hình thức xét xử này thành hoạt động thường xuyên với điểm cầu trung tâm tại trụ sở toà án và điểm cầu thành phần đặt ở nơi khác. Về mặt kỹ thuật, đây không phải là lắp thêm một bộ họp trực tuyến vào phòng xử. Đây là bài toán giữ nguyên tính trang nghiêm và tính liên tục của một phiên toà khi nó bị chia làm hai nơi.

Những điều cần giải trước: hình ảnh phải đủ để hội đồng quan sát được thái độ và cử chỉ của người khai ở đầu cầu kia, chứ không chỉ nhìn thấy một khuôn mặt mờ; âm thanh hai chiều phải liên tục, không cắt tiếng khi hai bên cùng nói; ai điều khiển camera nào và chuyển cảnh theo kịch bản tố tụng nào; hội đồng và người bào chữa cùng lúc phải nhìn được cả người khai lẫn tài liệu, tức là bố cục nhiều nguồn hình trên màn hình theo giải pháp hình ảnh đã tính trước; và quan trọng nhất, kịch bản xử lý khi đường truyền gián đoạn giữa một lời khai.

Điều cuối cùng đó dẫn thẳng tới hạ tầng mạng thiết kế riêng cho AV, gồm đường truyền chính và đường dự phòng độc lập về vật lý, ưu tiên lưu lượng cho luồng phiên toà, và tách khỏi mạng nghiệp vụ hành chính của trụ sở. Việc đặt lịch, chuẩn bị điểm cầu và kiểm tra trước phiên thuộc về lớp quản trị phiên làm việc, thứ giúp một phiên toà trực tuyến không bắt đầu bằng mười phút loay hoay kết nối.

Với vụ án có người nước ngoài hoặc người cần phiên dịch, kênh phiên dịch phải là kênh riêng chạy song song, tách khỏi kênh phòng, để bản ghi sau này phân biệt được lời khai gốc và lời dịch.

Lớp 4. Ba luồng người trong một trụ sở, và ba luồng đó không được gặp nhau

Một trụ sở toà án cùng lúc chứa ba nhóm người có nhu cầu di chuyển hoàn toàn khác nhau: công chúng và đương sự đi từ cổng vào khu tiếp dân rồi vào phòng xử; thẩm phán, thư ký và cán bộ đi trong khu làm việc và phòng nghị án; bị cáo bị áp giải đi theo tuyến riêng từ xe tới khu tạm giữ rồi vào phòng xử. Ba tuyến này giao nhau ở đâu là rủi ro nằm ở đó, và giải pháp cho nó là phân vùng chứ không phải thêm bảo vệ.

Hệ thống an ninh thông minh tích hợpnhóm thiết bị an toàn, an ninh giải bài toán này bằng cách nối các hệ vốn rời nhau: kiểm soát ra vào theo vùng và theo khung giờ, camera phủ liên tục tuyến áp giải không có điểm mù, nút báo động im lặng tại bàn thư ký và bục chủ toạ, và cảnh báo được đẩy tới đúng người thay vì chỉ hiện lên một màn hình trong phòng trực.

Ở đây có một chi tiết đáng để chủ đầu tư hỏi kỹ nhà thầu. Lệnh phong toả và lệnh sơ tán là hai lệnh ngược nhau, một bên giữ người ở trong, một bên đẩy người ra ngoài. Nhiều công trình phát lệnh phong toả bằng chính hệ báo cháy, và khi tín hiệu cháy xuất hiện, nó đè lên lệnh phong toả và đẩy người ra đúng nơi đang có nguy hiểm. Vì vậy phát thanh báo động và liên lạc khẩn cấp cùng thiết bị phát thanh công cộng, cảnh báo giọng nói cần được thiết kế như một hệ độc lập có phân cấp ưu tiên rõ ràng, phát được theo từng vùng, và có giám sát đường loa để biết một tuyến đã hỏng trước khi cần dùng tới nó. Thước đo là độ rõ lời nói: theo IEC 60268-16, ngưỡng thường được lấy làm mốc cho hệ thống sơ tán là STI đạt 0,50 trung bình và không dưới 0,45 tại điểm bất lợi nhất.

Nửa còn lại của trụ sở là nơi người dân đứng chờ. Khu tiếp nhận đơn và nộp hồ sơ cần quản lý hàng đợimàn hình thông tin, lịch xét xử để không còn cảnh xúm quanh một bảng giấy. Tại quầy, nội dung người dân trình bày thường là chuyện riêng của họ, và người xếp hàng phía sau nghe hết. Âm thanh định hướng cùng một lớp âm nền chủ động giữ cuộc trao đổi đó lại trong phạm vi một hai mét. Cùng nguyên lý đó áp dụng cho phòng nghị án và phòng chờ nhân chứng, hai không gian mà cách âm phải là cách âm thật từ cấu tạo vách, không phải một tấm thạch cao mỏng và một cánh cửa gỗ.

Lớp 5. Nền móng, người vận hành thật, và những gì xảy ra sau nghiệm thu

Một phiên toà đã có lịch thì không hoãn được vì lý do kỹ thuật. Điều đó đặt yêu cầu lên hai thứ mà không ai nhìn thấy trong ngày khánh thành.

Nguồn điện là thứ nhất. Hệ ghi âm ghi hình, hệ trực tuyến và hệ an ninh cần nguồn ưu tiên có dự phòng, cộng với lớp bảo vệ trước xung sét và nhiễu từ tải nặng trong toà nhà. Đây là vai trò của nguồn an toàn, chống sét, lọc nhiễu và UPS, lớp rẻ nhất so với giá trị nó đứng che phía trước, và cũng là lớp bị cắt đầu tiên khi dự toán bị siết.

Người vận hành là thứ hai, và đây là điểm mà rất nhiều hồ sơ kỹ thuật bỏ qua. Người bấm nút trong phiên toà là thư ký, không phải kỹ sư âm thanh. Nếu giao diện điều khiển đòi hỏi hiểu ma trận tín hiệu để chuyển một nguồn hình, hệ thống sẽ bị dùng sai hoặc bị dùng ở mức tối thiểu suốt vòng đời của nó. Thiết kế đúng là gom mọi thao tác thường dùng vào vài phím chức năng rõ nghĩa, phần phức tạp đẩy hết xuống lớp cấu hình mà người dùng không phải chạm tới.

Phần sau bàn giao thì đơn giản nhưng ít khi được hỏi lúc đàm phán hợp đồng: ai biết một micro trên bục khai báo đã chết, trước khi phiên toà bắt đầu. Giám sát và quản lý từ xa hạ tầng cùng dịch vụ AV chăm sóc chủ động chuyển bảo trì từ thế bị động sang thế chủ động, và đi kèm là cam kết thời gian ứng cứu tính bằng giờ chứ không phải bằng ngày làm việc.

Còn một lớp nữa thuộc về con người trong phòng: một phiên toà có thể kéo dài nhiều giờ trong không gian kín và đông. Chất lượng không khí trong nhà ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tập trung của hội đồng xét xử vào buổi chiều, chiếu sáng phải đủ để camera ghi hình rõ khuôn mặt mà không hắt bóng hay chói vào mắt người khai, và ghế là chi tiết nhỏ mà ai từng ngồi trọn một phiên xử đều nhớ.

Ba điều nên chốt ngay khi công trình còn ở bản vẽ

Một, vị trí micro và hộp sàn phải bám sơ đồ tố tụng. Bàn hội đồng, bàn thư ký, bàn kiểm sát, bàn người bào chữa, bục khai báo, khu áp giải. Hộp sàn và ống chờ phải nằm đúng dưới các vị trí đó trước khi đổ sàn và hoàn thiện. Đặt sai vị trí nghĩa là dây chạy nổi băng ngang lối đi trong một không gian cần sự trang nghiêm.

Hai, âm học phòng xử và cách âm phòng nghị án. Cấu tạo vách, trần, vật liệu bề mặt và cửa. Bốn thứ này quyết định phần lớn độ rõ lời nói và mức riêng tư của phòng nghị án, và chúng thuộc quyền của kiến trúc sư ở giai đoạn thiết kế cơ sở, không thuộc quyền của nhà thầu thiết bị ở giai đoạn lắp đặt.

Ba, phòng kỹ thuật, tuyến cáp và điểm cầu trực tuyến. Vị trí tủ rack và khoảng cách tới các phòng xử, tuyến cáp riêng cho hệ AV, nguồn ưu tiên, đường truyền chính và đường dự phòng đi theo hai hướng vật lý khác nhau. Ba thông số này rẻ khi còn nằm trên bản vẽ cơ điện và rất đắt khi phải bổ sung sau nghiệm thu.

Vai trò của Bá Hùng trong một công trình toà án

Chúng tôi tham gia ở năm vai trò, thường là cả năm trên cùng một công trình: tư vấn kiến trúc giải pháp từ giai đoạn thiết kế cơ sở, cung cấp thiết bị từ các hãng đối tác trực tiếp tại G7 và Châu Âu, thi công tích hợp, bảo hành và bảo trì dài hạn, ứng cứu nhanh theo kịch bản sự cố dựng sẵn. Cách chúng tôi tiếp cận một công trình được mô tả trong tư duy kiến trúc giải pháp, phần đối tác nằm ở đối tác trực tiếp G7 và EU, phần quy trình và trách nhiệm nằm ở chứng nhận ISO 9001 duy trì liên tục từ năm 2011 và dịch vụ kỹ thuật.

Chi phí sửa một quyết định công nghệ tăng theo cấp số nhân qua từng mốc: ý tưởng, thiết kế cơ sở, thi công thô, hoàn thiện. Nếu công trình còn đang ở bản vẽ, đó là thời điểm rẻ nhất để nói chuyện. Gửi bản vẽ cho kiến trúc sư giải pháp của Bá Hùng để nhận danh mục hạng mục sơ bộ, ba mức cấu hình tham chiếu và bộ điều kiện kỹ thuật có thể đưa thẳng vào thuyết minh thiết kế.

Các nhóm công trình liền kề mà chúng tôi phục vụ: cơ quan chính phủ, quân đội và an ninh, toà nhà văn phòng và doanh nghiệp, cùng toàn bộ các nhóm thị trường khác.