Lớp 1. Hàng nghìn người không biết đường ra
Trong một toà nhà văn phòng, người bên trong đi cùng một lối mỗi ngày và biết đường thoát mà không cần nghĩ. Trong trung tâm mua sắm thì ngược lại: đúng vào giờ đông nhất, phần lớn người có mặt mới đến lần đầu hoặc lần thứ hai.
Hệ quả kỹ thuật đầu tiên là chuông báo cháy đơn thuần không đủ. Một hồi chuông chỉ nói rằng có chuyện. Nó không nói chuyện gì, ở đâu, và phải đi hướng nào. Đám đông thiếu thông tin sẽ tự chọn lối mà họ nhớ, tức là lối họ đã đi vào, và đó thường là lối tệ nhất. Hệ thống phát thanh báo động và liên lạc khẩn cấp tồn tại để thay hồi chuông bằng một câu nói có nội dung, phát đúng vùng, đúng thời điểm.
Bộ tiêu chuẩn EN 54 chi phối phần này: EN 54-16 cho tủ điều khiển và chỉ báo của hệ cảnh báo bằng giọng nói, EN 54-24 cho loa dùng trong hệ báo cháy, cùng ISO 7240-19 cho phần thiết kế hệ âm thanh phục vụ mục đích khẩn cấp. Ba tài liệu này không phải chuyện riêng của nhà thầu thi công. Chúng quyết định cách chia vùng, cách đi dây, cách giám sát đường loa, cách bố trí nguồn dự phòng, tức là những thứ phải nằm sẵn trong bản vẽ. Xem thêm phần hệ thống phát thanh công cộng và cảnh báo giọng nói.
Độ rõ lời nói là chỉ số phải đo, không phải cảm nhận. Chỉ số STI (Speech Transmission Index, theo IEC 60268-16) thường được lấy ở ngưỡng trung bình 0,50 và tối thiểu 0,45 tại từng điểm đo đối với hệ thống phục vụ sơ tán. Điều đáng chú ý: STI là thuộc tính của căn phòng cộng với hệ thống, không phải thuộc tính của thiết bị. Một atrium thông tầng, trần cao, mặt kính và đá mài, thời gian hồi âm dài, có thể kéo STI xuống dưới ngưỡng ngay cả khi công suất loa dư thừa. Phần lớn kết quả đã được định đoạt trên bản vẽ kiến trúc, trước khi bất kỳ thiết bị nào được mua. Vật liệu và giải pháp âm học cho công trình vì thế là hạng mục đi cùng, không phải hạng mục cắt được khi vượt dự toán.
Sơ tán theo giai đoạn. Tổng số người trong một trung tâm mua sắm vào giờ cao điểm thường vượt xa năng lực thoát người tức thời của hệ thang. Kịch bản thực tế vì vậy hiếm khi là tất cả cùng ra một lúc. Nó là sơ tán theo giai đoạn: khu vực nguy hiểm và khu vực liền kề đi trước, các khu còn lại nhận bản tin chờ, rồi lần lượt được gọi. Kịch bản này chỉ chạy được nếu vùng loa trùng khớp với vùng thoát nạn, và nếu mỗi vùng nhận được một nội dung khác nhau tại cùng một thời điểm.
Hai lệnh ngược chiều nhau. Cháy thì đưa người ra ngoài. Nhưng một sự cố an ninh trong khu công cộng lại đòi hỏi điều ngược lại: giữ người ở nguyên chỗ, đóng các cửa nhất định, tránh đẩy đám đông về phía nguy hiểm. Hai lệnh này không thể dùng chung một nút bấm. Hệ báo cháy được thiết kế để làm duy nhất một việc là đưa người ra; nếu lệnh phong toả được gắn vào đó, một thao tác nhầm sẽ tạo ra đúng thảm hoạ mà nó định ngăn. Đây là lý do hệ an toàn và an ninh cần được thiết kế như một kiến trúc có phân cấp lệnh, không phải như một tập hợp thiết bị đặt cạnh nhau.
Người không nghe được lệnh và người không tự đi được. Khu vệ sinh, phòng thử đồ, buồng thang máy, khu chờ hỗ trợ sơ tán cần liên lạc khẩn cấp hai chiều, để người bên trong gọi ra được và trung tâm điều khiển biết chính xác ai đang gọi từ đâu. Quầy thông tin và quầy dịch vụ khách hàng là vị trí hợp lý để bố trí hỗ trợ nghe cho khách khiếm thính.
Khách thuê phải nghe được lệnh. Đây là điểm đặc thù của trung tâm mua sắm so với mọi loại công trình khác. Một gian hàng đang mở nhạc lớn sẽ không nghe thấy thông báo phát ngoài hành lang, và khách đang ở trong gian đó cũng vậy. Nghĩa là hệ trung tâm phải có đường phát vào bên trong từng gian và có quyền cắt nhạc của khách thuê khi cần. Quyền đó phải được viết trong hợp đồng thuê, còn điểm đấu nối phải được chừa sẵn trên bản vẽ. Không thể đàm phán lại việc này với từng chủ gian hàng sau khi đã khai trương.
