Phòng xét xử không phải phòng họp: kiến trúc Pro AV cho tòa án bắt đầu từ trình tự tố tụng

Một phòng họp được đánh giá ngay khi cuộc họp kết thúc. Một phòng xét xử được đánh giá muộn hơn nhiều: khi bản ghi được mở lại ở phiên phúc thẩm, khi một lời khai bị tranh chấp, khi luật sư hỏi chính xác ai đã nói câu đó, vào giây thứ mấy. Hệ thống nghe nhìn của tòa án vì thế phục vụ hai thời điểm cùng lúc: phiên tòa đang diễn ra, và mọi lần người ta quay lại xem phiên tòa ấy.

Bài viết này trình bày cách Bá Hùng tiếp cận hạ tầng Pro AV cho phòng xét xử, phòng lấy lời khai và phòng kỹ thuật của một trụ sở tòa án. Bức tranh rộng hơn về toàn bộ công trình (luồng người, an ninh, phát thanh khẩn cấp) nằm ở trang thị trường Tòa án.

Vì sao không thể bê cấu hình phòng họp đặt vào phòng xử án

Trong phòng họp, mọi người ngồi quanh một chiếc bàn và quyền phát biểu gần như ngang nhau. Phòng xử án có trật tự riêng do luật định. Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, thư ký phiên tòa, luật sư, bị cáo hoặc đương sự, người làm chứng, người phiên dịch, người dự khán: mỗi vị trí có quyền nói khác nhau, thời điểm nói khác nhau, và mức độ cần được ghi lại cũng khác nhau.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 giao cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định quy chuẩn trang thiết bị và cách bố trí phòng xử án. Hệ quả kỹ thuật rất rõ: sơ đồ chỗ ngồi có trước, hệ thống phải bám theo sơ đồ đó. Vị trí hộp sàn, đường cáp, góc camera, hướng loa đều được quyết từ sơ đồ tố tụng chứ không phải từ catalogue thiết bị.
Còn một khác biệt ít ai để ý. Người điều khiển thật của phòng xét xử không phải kỹ thuật viên, mà là thư ký phiên tòa. Họ vừa ghi biên bản vừa theo dõi diễn biến, và không có thời gian cho một màn hình cảm ứng hai mươi nút. Một hệ thống chỉ chạy tốt khi có kỹ sư đứng cạnh là một hệ thống đã thất bại ở tòa án.

Lời nói: nghe được trong phòng, ghi được cho hồ sơ

Mỗi vị trí tố tụng cần một micro riêng, và vị trí chủ tọa cần quyền ưu tiên: ngắt, nhường lời, khóa micro khi cần giữ trật tự. Đây là phần việc của hệ thống hội nghị, biểu quyết và phiên dịch, nhưng được cấu hình theo quy tắc của phiên tòa chứ không theo quy tắc của cuộc họp.
Phần ghi âm mới là chỗ phòng xử án đòi hỏi khắt khe hơn mọi không gian khác. Bản ghi một rãnh trộn sẵn chỉ cho biết "trong phòng có người nói". Bản ghi đa rãnh, mỗi micro một rãnh độc lập cộng thêm một rãnh tổng của toàn hệ thống, cho phép tách lời từng người khi hai bên nói chồng lên nhau, và cho phép xác định lời nói đến từ vị trí nào. Khi một câu khai bị phản bác nhiều tháng sau, sự khác biệt giữa hai cách ghi này là sự khác biệt giữa "có bằng chứng" và "không chắc chắn".
Rồi đến căn phòng. Phòng xử án thường trần cao, sàn đá, ốp gỗ phẳng để tạo sự trang nghiêm, và chính những bề mặt ấy làm tiếng vang kéo dài. Micro tốt đặt trong một căn phòng vang vẫn cho ra bản ghi khó nghe. Mục tiêu âm học nên được chốt cùng kiến trúc sư ngay ở thiết kế cơ sở, với vật liệu âm học giữ được vẻ trang nghiêm mà không đánh đổi độ rõ lời.
Người làm chứng không phải người quen nói trước micro. Họ ngả người ra sau, nói nhỏ, quay sang nhìn luật sư. Ở điều kiện tối ưu (phòng lớn, trần cao, âm học được xử lý đúng), kỹ thuật chống hú đa tầng của Bá Hùng cho phép thu tiếng ở khoảng cách tới 160 cm. Con số này là trần kỹ thuật chứ không phải cấu hình mặc định. Lý do nó quan trọng nằm ở định luật nghịch đảo bình phương: lùi từ 20 cm ra 160 cm, tín hiệu giọng nói giảm khoảng 18 dB, tương đương phải bù lại khoảng 64 lần công suất. Ngay cả ở phòng xử án tiêu chuẩn không cần tới mức đó, biên độ an toàn dư ra là thứ giữ được lời của một người làm chứng run tay, nói lí nhí, và đó thường là những lời quan trọng nhất của phiên tòa.
Lời nói còn cần được giữ lại trong ranh giới. Phòng nghị án phải cách âm thật sự với hành lang. Khu vực luật sư trao đổi với thân chủ cần sự riêng tư, nơi công nghệ âm nền chủ động (sound masking) làm câu chữ không lọt sang người ngồi bên cạnh.

Hình ảnh chứng cứ: ai được thấy, và khi nào

Chứng cứ ngày nay hiếm khi chỉ là giấy. Đó có thể là ảnh hiện trường, đoạn trích camera giám sát, bản vẽ, tài liệu điện tử trên máy tính của luật sư. Nguyên tắc chúng tôi đặt cho phần trình chiếu rất đơn giản: quyền đưa hình lên màn hình chung thuộc về chủ tọa. Một tấm ảnh hiện trường đã hiện lên trước hàng ghế dự khán thì không có cách nào thu lại. Hệ thống vì thế phải phân biệt màn hình riêng của Hội đồng xét xử, màn hình của các bên tham gia tố tụng và màn hình dành cho người dự khán, mỗi lớp được mở theo quyết định của người có thẩm quyền.
Camera trong phòng xử án cũng không phải camera an ninh. Camera an ninh được thiết kế để phát hiện chuyển động từ một góc cố định, nén hình mạnh để tiết kiệm lưu trữ. Phòng xử án cần thứ khác: camera hội nghị chuyên dụng có quay, nghiêng, phóng to, tự chuyển về người đang được micro trao lời, cho ra hình ảnh khuôn mặt đủ rõ để người xem lại hiểu được không chỉ lời nói mà cả thái độ. Đây là phần việc của giải pháp hình ảnh, tách biệt hẳn với hệ thống an ninh tích hợp của trụ sở.
Cuối cùng là thời gian. Âm thanh, hình ảnh và biên bản phải cùng một nguồn thời gian. Hai bản ghi lệch nhau vài giây đủ để một bên đặt câu hỏi về tính toàn vẹn của cả hồ sơ.

Phiên tòa không còn nằm gọn trong bốn bức tường

Khung pháp lý cho phiên tòa trực tuyến đã có từ năm 2021, và thực tế xét xử đã quen với các điểm cầu ở trại tạm giam, người làm chứng ở tỉnh khác, người phiên dịch tham gia từ xa. Mỗi điểm cầu là một phần kéo dài của phòng xử án, nên chất lượng âm thanh và hình ảnh ở đó phải được kiểm soát như ở chính phòng xét xử. Phần hội nghị truyền hình được ghép vào hệ âm thanh và ghi hình của phòng, để người ở xa nghe được đúng micro đang mở và lời của họ vào đúng rãnh ghi.
Riêng với người chưa thành niên, pháp luật yêu cầu phòng xử án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên phải được bố trí thân thiện. Phòng lấy lời khai cho trẻ em vì thế cần camera kín đáo, micro không gây áp lực, ánh sáng ấm, trong khi hình ảnh và âm thanh vẫn truyền về phòng xét xử với chất lượng đủ làm chứng cứ.
Với những phiên tòa có đông người quan tâm, phòng xem truyền hình nội bộ giúp giảm tải phòng xử án khi Hội đồng xét xử cho phép, qua hạ tầng phát hình nội bộ có kiểm soát.

Câu hỏi mà đơn vị tư vấn nào cũng đặt ra: ma trận chuyển mạch hay AV qua IP?

Đây là kiến thức chung của ngành, và chúng tôi trình bày đầy đủ.
Ma trận chuyển mạch tập trung gom mọi nguồn và mọi điểm hiển thị về một khung thiết bị. Độ trễ gần như bằng không, hành vi xác định, dễ nghiệm thu. Đổi lại, khi số nguồn và số phòng tăng lên, khung thiết bị phải được chọn dư ngay từ đầu, và mở rộng về sau thường có nghĩa là thay khung.
AV qua IP biến mỗi nguồn và mỗi điểm hiển thị thành một nút trên mạng. Mở rộng linh hoạt hơn, quản trị tập trung nhiều phòng dễ hơn. Đổi lại, toàn bộ chất lượng hình ảnh phụ thuộc vào một hạ tầng mạng được thiết kế riêng cho AV: phân luồng multicast, ưu tiên lưu lượng, tách vùng mạng và các lớp an ninh mạng phù hợp với một cơ quan tư pháp. Ngành cũng đang đẩy mạnh các chuẩn mở như IPMX, xây trên nền SMPTE ST 2110, để thiết bị của nhiều nhà sản xuất nói chuyện được với nhau thay vì khóa chủ đầu tư vào một hệ sinh thái.
Bá Hùng làm việc được với cả hai trường phái, cùng các đối tác công nghệ từ Mỹ và châu Âu. Nhưng chúng tôi không trả lời câu hỏi "ma trận hay IP" trước khi có câu trả lời cho ba câu hỏi khác:
• Công trình là một phòng xét xử đơn lẻ, hay một chuỗi phòng được nhân bản theo một chuẩn chung?
• Sự cố ở một phòng có được phép ảnh hưởng tới phòng bên cạnh đang xét xử hay không?
• Ai vận hành, ai giám sát, và năm thứ năm sau bàn giao trông như thế nào?
Ba câu trả lời đó quyết định kiến trúc. Thương hiệu thiết bị chỉ được chọn sau cùng, và có thể thay đổi theo từng gói thầu mà không làm thay đổi logic vận hành của phòng. Với chủ đầu tư, điều này có nghĩa là một hệ thống không phụ thuộc vào chính sách giá hay khả năng cung ứng của một hãng duy nhất trong suốt vòng đời công trình.

Điều khiển: một chạm cho thư ký, mọi lớp an toàn nằm phía sau

Một phiên tòa đi qua những trạng thái có thể gọi tên: chuẩn bị, khai mạc, xét hỏi, tranh luận, tạm nghỉ, nghị án, tuyên án. Mỗi lần chuyển trạng thái, rất nhiều thứ phải đổi cùng lúc: micro nào mở, camera nhìn về đâu, màn hình nào được phép hiển thị, bản ghi chạy hay dừng, ánh sáng ở mức nào. Người dùng chỉ nên thấy tên trạng thái. Phần phối hợp phía sau là việc của hệ thống.

Quyết định ghi hình cũng vậy: nó thuộc về người có thẩm quyền tại phiên tòa, được đặt ở đúng vị trí của họ, và hệ thống lưu lại dấu vết ai đã bật, ai đã dừng, vào lúc nào.

Phía dưới tất cả là nguồn điện. Một lần chập chờn nguồn giữa phiên có thể làm khởi động lại bộ xử lý âm thanh và cắt đứt bản ghi. Nguồn lọc, chống sét lan truyền và lưu điện có giám sát từ xa là lớp bảo hiểm rẻ nhất cho toàn bộ hệ thống.

Từ một phòng đến hàng trăm phòng

Ngành tòa án có một đặc thù mà ít thị trường nào có: cùng một loại phòng được xây đi xây lại ở rất nhiều trụ sở. Bá Hùng xây giải pháp phòng xét xử theo ba cấp quy mô, cùng một logic vận hành, khác nhau ở mật độ thiết bị. Một thư ký chuyển công tác từ tòa này sang tòa khác vẫn dùng được hệ thống ngay ngày đầu tiên.
Mỗi phòng được thiết kế như một đơn vị độc lập về sự cố: một thiết bị hỏng ở phòng số 3 không được phép làm gián đoạn phiên tòa ở phòng số 4. Tất cả các phòng lại được nhìn thấy từ một chỗ, qua giám sát và quản lý từ xa, để đội kỹ thuật biết micro nào hỏng trước phiên tòa sáng mai chứ không phải khi chủ tọa đã ngồi vào ghế. Phần vận hành sau bàn giao được tổ chức theo mô hình chăm sóc AV chủ động, với kịch bản xử lý sự cố được dựng sẵn cho từng loại phòng.

Điều chúng tôi chia sẻ ở đây, và điều để dành cho bàn làm việc

Những gì viết ở trên là nguyên tắc. Ngành có thể kiểm chứng chúng, và chủ đầu tư nên đòi hỏi chúng từ bất kỳ nhà thầu nào.

Cách ghép từng lớp lại với nhau, thứ tự ưu tiên khi hai yêu cầu kỹ thuật xung đột, bộ cấu hình cụ thể cho từng cấp phòng và bộ kịch bản sự cố dựng sẵn: đó là phần chúng tôi trình bày trực tiếp với chủ đầu tư và đơn vị tư vấn thiết kế, trên bản vẽ của chính công trình. Mỗi tòa án có sơ đồ tố tụng, quy mô và đội vận hành riêng, và một kiến trúc tốt phải được dựng cho đúng công trình ấy.

Năm vai trò, một đầu mối

Với 23 năm hoạt động và hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 duy trì liên tục từ năm 2011, Bá Hùng đi cùng công trình tòa án ở cả năm vai trò:

Nếu công trình tòa án của bạn còn đang ở bản vẽ, đó là thời điểm rẻ nhất để nói chuyện. Kiến trúc sư và đơn vị thiết kế có thể tham khảo thêm tài liệu tại Architect Hub. Đối tác muốn cùng triển khai có thể xem hợp tác với Bá Hùng.

Gửi sơ đồ phòng xét xử cho kiến trúc sư giải pháp của Bá Hùng. Chúng tôi phản hồi bằng phương án, không phải bằng báo giá.