TỔNG QUAN GIẢI PHÁP - TÒA NHÀ - DOANH NGHIỆP

Giải pháp công nghệ cho tòa nhà văn phòng và doanh nghiệp: năm lớp bài toán, hai người mua, một trần nhà

Trong một tòa nhà văn phòng có hai người ra quyết định về công nghệ, và họ gần như không nói chuyện với nhau. Chủ đầu tư hoặc ban quản lý tòa nhà quyết phần khung: hạ tầng, an ninh, thông báo, thang máy, sảnh. Doanh nghiệp thuê quyết phần bên trong sàn của mình: phòng họp, văn phòng mở, khu tiếp khách.

Ranh giới giữa hai người đó thường nằm ngay trên trần giả. Và phần lớn những khoản chi lãng phí trong một tòa nhà văn phòng sinh ra đúng ở ranh giới ấy: chủ đầu tư không chừa sẵn thứ khách thuê sẽ cần, nên mỗi khách thuê lại tự khoan, tự kéo, tự chắp vá, rồi khi trả mặt bằng thì hoàn trạng lại từ đầu.

Bài viết này mô tả năm lớp bài toán của cả hai phía, viết cho chủ đầu tư tòa văn phòng, ban quản lý vận hành, và doanh nghiệp đang chuẩn bị làm nội thất cho trụ sở hoặc văn phòng mới.

Lớp 1. Phòng họp là nơi doanh nghiệp mất thời gian nhiều nhất mà không ai đo

Hãy nhân thử: mười phút đầu mỗi cuộc họp dành cho việc kết nối máy tính, tìm dây, chờ bên kia vào phòng ảo, thử micro. Nhân với số cuộc họp mỗi ngày, nhân với số phòng, nhân với mức lương của những người đang ngồi chờ. Con số đó lớn hơn giá trị của toàn bộ thiết bị trong phòng, và nó lặp lại mỗi năm.

Nguyên nhân hiếm khi là thiết bị kém. Nguyên nhân thường là mỗi phòng một kiểu, mỗi phòng một cách bấm, và không ai chịu trách nhiệm về việc chúng phải giống nhau.

Cách giải bắt đầu bằng chuẩn hóa xuống ba cấp phòng: phòng nhỏ bốn tới sáu người cho cuộc gọi nhanh, phòng họp mười tới mười hai người, và phòng hội đồng hoặc phòng town hall. Ba cấp, ba cấu hình, một giao diện điều khiển dùng chung, để bất kỳ ai bước vào bất kỳ phòng nào cũng thao tác được mà không cần gọi phòng IT. Nền tảng gồm hội nghị truyền hình, cộng tác và trình chiếu không dây, màn hình chọn theo giải pháp hình ảnh phù hợp kích thước phòng chứ không phải theo màn lớn nhất trong dự toán, cùng nội thất AV cho không gian cộng tác để dây và ổ cắm không nằm vắt ngang mặt bàn.

Với phòng hội đồng và phòng họp lớn, bài toán chuyển sang âm thanh. Bàn dài, người phát biểu ngồi cách micro xa hơn ta tưởng, và không ai muốn nói vào một chiếc micro dựng trước mặt suốt ba tiếng. Ở đây có một ràng buộc vật lý đáng biết: khoảng cách từ miệng tới micro tuân theo định luật bình phương nghịch đảo, đưa micro từ 20cm ra 160cm là mất khoảng 18dB, tương đương phải bù bằng 64 lần công suất, và đó chính là ngưỡng hệ thống bắt đầu hú. Bá Hùng có kỹ thuật chống hú đa tầng cho phép đặt micro xa tới 160cm, nhưng đó là trần kỹ thuật trong điều kiện tối ưu gồm phòng đủ lớn, trần đủ cao và âm học đã xử lý, không phải cấu hình mặc định. Giá trị thực tế với một phòng họp thông thường nằm ở biên an toàn rộng hơn, tức là người điều khiển không phải chạy theo nút chỉnh mỗi khi có người nghiêng ra sau ghế. Với phòng hội đồng cần biểu quyết hoặc phiên dịch, phần này thuộc hệ hội nghị, biểu quyết và phiên dịch với nhóm thiết bị hội thảo tương ứng.

Còn một chi tiết mà rất nhiều văn phòng đẹp mắc phải: phòng họp bốn mặt kính, trần thông phía trên vách. Nhìn thì hiện đại, nghe thì dội, và người bên ngoài nghe được gần hết. Cả hai vấn đề đó thuộc về vật liệu và giải pháp âm học cho công trình, và chúng phải được quyết ở giai đoạn thiết kế nội thất, không phải sau khi nhân viên bắt đầu phàn nàn.

Lớp 2. Văn phòng mở tiết kiệm diện tích và trả giá bằng sự tập trung

Mô hình mở giúp giảm mét vuông trên đầu người, tăng trao đổi, và làm không gian nhìn đẹp hơn trong ảnh chụp. Cái giá của nó là một thứ khó đo mà ai ngồi trong đó cũng biết: người ta nghe được lõm bõm cuộc gọi của đồng nghiệp cách hai bàn, và não buộc phải xử lý những mẩu lời nói đó dù không muốn.

Điều đáng nói là lời nói nghe rõ vừa phải mới là thứ gây mất tập trung mạnh nhất. Nghe rõ hẳn thì ta theo dõi nó có ý thức; nghe không ra chữ nào thì não bỏ qua. Chính khoảng giữa mới phá sự tập trung. Đó là lý do sound masking tồn tại: một lớp âm nền chủ động phát ở phổ và mức được tính toán, đẩy lời nói từ xa xuống dưới ngưỡng phân biệt từ, trong khi hai người ngồi cạnh nhau vẫn trao đổi bình thường. Đây là hạng mục rẻ nhất trên mỗi mét vuông trong toàn bộ danh sách này và cũng là hạng mục bị bỏ qua thường xuyên nhất.

Cùng lớp còn ba thứ khác quyết định chất lượng của tám tiếng làm việc. Chất lượng không khí trong nhà, thứ mà nhân viên cảm nhận thành cơn buồn ngủ lúc ba giờ chiều chứ không gọi được tên. Chiếu sáng thông minh điều chỉnh theo giờ trong ngày và theo ánh sáng tự nhiên qua mặt kính, thay vì một mức cố định từ tám giờ sáng tới sáu giờ chiều. Và tiếng ồn thiết bị từ khu kỹ thuật hoặc phòng máy nằm sát khu làm việc, thứ chỉ giải được bằng vỏ cách âm kiểm soát tiếng ồn máy móc và giải rẻ nhất khi vị trí phòng máy còn nằm trên bản vẽ.

Khu tiếp khách, pantry và không gian sự kiện nội bộ thì cần âm thanh nền và đa vùng, với nguyên tắc đơn giản: mỗi khu một mức riêng, có trần âm lượng để không ai vặn quá, và tự tắt khi có tín hiệu báo cháy.

Lớp 3. Diện tích trống là tiền, và hầu như không ai đo mức sử dụng thật

Đây là lớp mang lại khoản tiết kiệm lớn nhất trong bài viết này, và nó không nằm ở thiết bị.

Phần lớn doanh nghiệp thuê diện tích dựa trên số nhân sự trên giấy và trên cảm giác về nhu cầu phòng họp. Trong thực tế, sau khi mô hình làm việc linh hoạt trở thành bình thường, tỷ lệ ghế có người ngồi vào một ngày bất kỳ thấp hơn con số trên hợp đồng thuê khá nhiều, còn phòng họp mười hai chỗ thì thường xuyên bị hai người dùng cho một cuộc gọi.

Không ai sửa được điều đó nếu không có số liệu. Quản trị cuộc họp thế hệ mớikhông gian làm việc số cho phép đặt phòng và đặt chỗ ngồi, hiển thị trạng thái ngay tại cửa phòng, tự hủy đặt chỗ khi không ai tới, và quan trọng nhất là xuất ra báo cáo mức sử dụng thực tế theo phòng, theo giờ, theo tuần.

Với một doanh nghiệp đang cân nhắc gia hạn hợp đồng thuê, báo cáo đó thường là tài liệu có giá trị tài chính cao nhất mà bộ phận hành chính từng cầm trên tay: nó trả lời được câu hỏi nên thuê thêm một sàn hay nên bố trí lại sàn đang có. Với chủ đầu tư tòa nhà, cùng loại số liệu đó áp cho khu vực dùng chung giúp quyết định nên đầu tư thêm phòng họp chia sẻ hay thêm khu cộng tác.

Ở tầng tòa nhà, vận hành tòa nhànăng lượng xanh thông minh biến chính dữ liệu hiện diện đó thành tiền theo cách đo được: khu vực không có người thì hệ thống tự hạ tải chiếu sáng và điều hòa, thay vì phụ thuộc vào việc người cuối cùng rời tầng có tắt đèn hay không. Đây cũng là phần đóng góp trực tiếp vào hồ sơ chứng nhận công trình xanh mà nhiều chủ đầu tư hạng A đang theo đuổi.

Lớp 4. Tòa nhà cao tầng: an ninh theo vùng và một kịch bản không ai muốn diễn tập

Một tòa văn phòng có hàng nghìn người thuộc hàng chục tổ chức khác nhau, cộng với khách vãng lai mỗi ngày. Ranh giới ở đây không phải là hàng rào mà là quyền: ai được lên tầng nào, vào giờ nào, và ai biết chuyện đó đã xảy ra.

Hệ thống an ninh thông minh tích hợp cùng nhóm thiết bị an toàn, an ninh giải bài toán này bằng cách nối các hệ vốn rời nhau: thẻ quyết định thang máy cho phép bấm tầng nào, quản lý khách thăm gắn với người mời và tự hết hiệu lực, camera phủ liên tục khu vực dùng chung, cảnh báo đẩy tới đúng người thay vì chỉ hiện trên một màn hình trong phòng bảo vệ. Với tòa nhà nhiều khách thuê, giá trị lớn nhất là phân quyền theo tổ chức: mỗi doanh nghiệp quản lý được phần của mình mà không cần và không được nhìn sang phần của người khác.

Phần thứ hai là thứ chỉ dùng tới một lần trong nhiều năm, và đúng lần đó thì không được phép sai. Nhà cao tầng không sơ tán toàn bộ cùng lúc mà sơ tán theo giai đoạn, tầng cháy và các tầng liền kề đi trước, các tầng còn lại chờ lệnh. Một hệ thống chỉ biết phát cùng một nội dung ra toàn tòa nhà không làm được điều đó. Phát thanh báo động và liên lạc khẩn cấp với thiết bị phát thanh công cộng, cảnh báo giọng nói được thiết kế cho đúng tình huống đó: phát theo vùng, có bản ghi sẵn nhiều ngôn ngữ cho tòa nhà có khách thuê nước ngoài, có tuyến liên lạc hai chiều tại khu lánh nạn cho người không tự xuống thang bộ được, và có giám sát đường loa để biết một tuyến đã hỏng trước khi cần dùng tới nó.

Thước đo là độ rõ lời nói: theo IEC 60268-16, ngưỡng thường lấy làm mốc cho hệ thống sơ tán là STI đạt 0,50 trung bình và không dưới 0,45 tại điểm bất lợi nhất. Đáng chú ý, phần lớn con số này do chính căn phòng quyết định. Một sảnh thông tầng ốp đá và kính toàn phần sẽ ăn mất điểm STI mà không thiết bị nào bù lại được hoàn toàn, nên đây là hạng mục cần đặt lên bàn cùng lúc với thiết kế kiến trúc sảnh.

Một chi tiết nên hỏi kỹ nhà thầu: lệnh phong tỏa và lệnh sơ tán là hai lệnh ngược nhau. Nhiều công trình phát lệnh phong tỏa bằng chính hệ báo cháy, và khi tín hiệu cháy xuất hiện, nó đè lên lệnh phong tỏa.

Lớp 5. Nền móng, và ranh giới trách nhiệm giữa chủ tòa nhà với khách thuê

Quay lại chỗ ranh giới ở đầu bài. Phần khung do chủ đầu tư làm quyết định khách thuê sau này tốn bao nhiêu và làm được tới đâu.

Bốn thứ nên có sẵn trong phần khung, vì bổ sung sau luôn đắt hơn nhiều lần: tuyến ống chờ từ khu kỹ thuật tầng vào trong sàn cho thuê; điểm nguồn ưu tiên cho các hệ chạy liên tục; khả năng chịu tải và điểm treo trên trần tại vùng dự kiến làm phòng họp lớn hoặc khu tiếp khách; và một trục mạng đủ dung lượng cho mười năm tới. Chủ đầu tư nào chuẩn bị sẵn bốn thứ này thường bán được điểm khác biệt rất rõ khi đàm phán với khách thuê lớn, đặc biệt là khách thuê nước ngoài vốn có bộ tiêu chuẩn kỹ thuật riêng.

Bên dưới tất cả là hai lớp không ai nhìn thấy. Nguồn an toàn, chống sét, lọc nhiễu và UPS, lớp bảo vệ rẻ nhất so với giá trị thiết bị nó đứng che phía trước, và là lớp bị cắt đầu tiên khi dự toán bị siết. Cùng với hạ tầng mạng thiết kế riêng cho AVhạ tầng, an ninh mạng: luồng camera, âm thanh và hình ảnh không nên chạy chung mặt phẳng với mạng nghiệp vụ của khách thuê, vì tách bạch vừa giữ chất lượng ổn định vừa làm cho việc phân định trách nhiệm khi có sự cố trở nên rõ ràng.

Sau khi vận hành, câu hỏi duy nhất còn lại là ai biết một hệ thống đã hỏng trước khi người dùng phát hiện. Giám sát và quản lý từ xa hạ tầng cùng dịch vụ AV chăm sóc chủ động chuyển bảo trì từ thế bị động sang thế chủ động. Với tòa nhà nhiều khách thuê, đây cũng là công cụ để ban quản lý chứng minh chất lượng dịch vụ bằng số liệu thay vì bằng lời hứa. Còn phần thông tin thường ngày ở sảnh, thang máy và khu chờ thì thuộc digital signage và IPTV.

Ba điều nên chốt ngay khi công trình còn ở bản vẽ

Một, phần khung phải chừa sẵn cho phần nội thất. Ống chờ vào sàn cho thuê, điểm nguồn ưu tiên, tải trần và điểm treo tại vùng phòng họp dự kiến, dung lượng trục mạng. Bốn thứ này gần như miễn phí khi còn nằm trên bản vẽ cơ điện và rất đắt khi phải bổ sung trên một tòa nhà đang có người làm việc.

Hai, bộ ba cấu hình phòng họp chuẩn, chốt trước khi thiết kế nội thất. Ba cấp phòng, một giao diện điều khiển dùng chung, một quy ước đặt tên thiết bị. Đây là quyết định rẻ nhất và có ảnh hưởng dài nhất, vì nó ràng buộc mọi lần mở rộng sau này.

Ba, âm học và cách âm cho phòng họp cùng khu vực mở. Cấu tạo vách phòng họp kính, xử lý phần trần thông phía trên vách, vật liệu tiêu âm trần khu mở, và vị trí phòng máy so với khu làm việc. Bốn thứ này thuộc quyền của kiến trúc sư ở giai đoạn thiết kế, không thuộc quyền của nhà thầu thiết bị ở giai đoạn lắp đặt.

Vai trò của Bá Hùng trong một dự án văn phòng

Chúng tôi tham gia ở năm vai trò, thường là cả năm trên cùng một công trình: tư vấn kiến trúc giải pháp từ giai đoạn thiết kế cơ sở, cung cấp thiết bị từ các hãng đối tác trực tiếp tại G7 và Châu Âu, thi công tích hợp, bảo hành và bảo trì dài hạn, ứng cứu nhanh theo kịch bản sự cố dựng sẵn. Cách chúng tôi tiếp cận một công trình được mô tả trong tư duy kiến trúc giải pháp, phần đối tác nằm ở đối tác trực tiếp G7 và EU, phần quy trình và trách nhiệm nằm ở chứng nhận ISO 9001 duy trì liên tục từ năm 2011 và dịch vụ kỹ thuật.

Chi phí sửa một quyết định công nghệ tăng theo cấp số nhân qua từng mốc: ý tưởng, thiết kế cơ sở, thi công thô, hoàn thiện. Nếu dự án còn đang ở bản vẽ, đó là thời điểm rẻ nhất để nói chuyện. Gửi bản vẽ cho kiến trúc sư giải pháp của Bá Hùng để nhận bộ cấu hình phòng tham chiếu, ba mức đầu tư và bộ điều kiện kỹ thuật có thể đưa thẳng vào thuyết minh thiết kế.

Các nhóm công trình liền kề mà chúng tôi phục vụ: chủ đầu tư phát triển bất động sản, tòa nhà chung cư, ngân hàng và tài chính, cùng toàn bộ các nhóm thị trường khác.