Có một người ở lại khi cả toà nhà chạy xuống. Toà nhà của bạn đã nghĩ tới người đó chưa?

Kế hoạch thoát nạn của hầu hết công trình được thiết kế cho những người có thể tự chạy. Câu chuyện thật lại nằm ở người không thể.

Hãy hình dung một người phụ nữ ngồi xe lăn, làm việc ở tầng mười hai. Một buổi sáng, chuông báo cháy vang lên. Tất cả đồng nghiệp của cô đứng dậy, theo dòng người đổ về cầu thang bộ và đi xuống. Nhưng cô thì không. Thang máy đã ngừng, đó là quy tắc khi có cháy. Cầu thang bộ, với cô, là một bức tường.

Cô được hướng dẫn di chuyển tới một nơi gọi là khu vực lánh nạn, một khoảng không được thiết kế để chịu lửa và khói trong một khoảng thời gian, nằm ngay cạnh cầu thang. Cô tới đó. Cô ngồi xuống. Và rồi cô làm điều duy nhất còn lại: chờ. Chờ ai đó biết rằng cô đang ở đây. Chờ ai đó đến đưa cô đi.

Bây giờ là câu hỏi quyết định tất cả: bằng cách nào cô báo cho đội cứu hộ biết rằng có một con người đang chờ ở góc tầng mười hai? Và bằng cách nào cô biết rằng tín hiệu của mình đã được nghe thấy, rằng cô không bị bỏ quên?

Nếu câu trả lời cho toà nhà của bạn là một khoảng im lặng, thì bạn vừa chạm vào lỗ hổng nguy hiểm và bị bỏ sót nhiều nhất trong thiết kế an toàn công trình.

Chúng ta thiết kế cho đám đông biết chạy, và quên người phải ở lại

Gần như mọi kế hoạch sơ tán đều ngầm giả định một điều: rằng khi chuông kêu, con người sẽ đứng dậy và tự di chuyển tới nơi an toàn. Giả định đó đúng với phần lớn. Nó sụp đổ hoàn toàn với một người ngồi xe lăn, một người vừa phẫu thuật, một người cao tuổi không thể xuống mười hai tầng thang bộ, một sản phụ, một người bị thương ngay trong sự cố.

Với những người này, kế hoạch thoát nạn thông thường không có chỗ cho họ. Họ không chạy xuống cùng đám đông được. Họ được đưa vào khu lánh nạn để chờ được cứu. Và toàn bộ mạng sống của họ, trong khoảnh khắc đó, treo trên một sợi dây duy nhất: khả năng liên lạc hai chiều với người đang điều phối cuộc cứu hộ.

Sợi dây đó có một cái tên trong ngành: hệ thống liên lạc khẩn cấp bằng giọng nói. Nó gồm những trạm gọi đặt tại khu lánh nạn để người mắc kẹt bấm và nói được với trung tâm, và những trạm điện thoại dành riêng cho lính cứu hỏa dọc lối thoát, để lực lượng chữa cháy liên lạc với nhau và với chỉ huy ngay giữa hiện trường, khi mọi mạng thông tin thông thường đã quá tải hoặc đã chết.

Vì sao một không gian lánh nạn không có đường dây gần như vô nghĩa

Đây là chỗ nhiều hồ sơ thiết kế đi được một nửa rồi dừng. Kiến trúc sư vẽ ra khu vực lánh nạn, đủ diện tích, đủ khả năng chịu lửa, đúng vị trí. Trên bản vẽ, nó là một ô vuông được đánh dấu an toàn. Nhưng một khu lánh nạn không có đường liên lạc về trung tâm thì chỉ là một căn phòng đẹp để chờ đợi trong vô vọng.

Sự an toàn của không gian ấy chỉ có ý nghĩa nếu người trong đó nói được ra ngoài, và nghe được câu trả lời vọng vào. Một chiều thôi là chưa đủ. Nếu người mắc kẹt bấm nút mà không có phản hồi, họ không biết tín hiệu đã tới nơi hay đã rơi vào hư không, và nỗi hoảng loạn ấy tự nó đã là một mối nguy. Chính vế nghe được câu trả lời, cái mà ngành gọi bằng một cụm giản dị là tín hiệu an tâm, mới là thứ biến một cái nút bấm thành một sợi dây cứu sinh thật sự.

Và đây không chỉ là chuyện tử tế. Ở nhiều công trình, một khu lánh nạn có người sử dụng mà thiếu phương tiện liên lạc là một thiếu sót có thể bị quy trách nhiệm pháp lý về phía chủ đầu tư và đơn vị quản lý vận hành. Câu hỏi không phải là có nên làm hay không. Câu hỏi là ai đảm bảo nó được làm cho đúng.

Một hệ thống chỉ đáng tin khi nó vẫn sống lúc mọi thứ khác đã chết

Điều khiến hệ thống này khác với một chiếc điện thoại nội bộ thông thường nằm ở chỗ nó được sinh ra để hoạt động đúng vào lúc tồi tệ nhất. Đường dây của nó đi riêng, được bọc để chịu lửa, và tự giám sát chính mình từng phút: một đoạn cáp chớm hỏng, một trạm gọi mất kết nối, tất cả phải được phát hiện và cảnh báo từ trước, chứ không phải để lộ ra vào đúng giây phút có người bấm nút mà đầu bên kia im lặng.

Bố trí những trạm gọi và điện thoại này ở đâu, bao nhiêu cái, đặt cao thấp thế nào để một người ngồi xe lăn với tới được, tất cả đều là những quyết định phải khớp với logic tác chiến thật của lực lượng cứu hỏa, chứ không phải rải cho đủ số lượng trên bản vẽ. Đây là loại hiểu biết đến từ kinh nghiệm thực chiến và từ những bộ tiêu chuẩn chuyên biệt như EN 54-32 và BS 5839-9, thứ mà không phải đơn vị nào cầm bản vẽ cũng thật sự nắm.

Ai chịu trách nhiệm cho sợi dây cuối cùng đó

Trở lại với người phụ nữ ở tầng mười hai. Số phận của cô trong khoảnh khắc ấy không được quyết bởi thiết bị đắt tiền nhất, mà bởi việc có hay không một đơn vị đã nghĩ tới cô ngay từ khi công trình còn nằm trên giấy, và theo cô đi suốt vòng đời của toà nhà.

Đó là đơn vị tư vấn kiến trúc giải pháp đặt câu hỏi về người ở lại ngay từ đầu, chứ không để nó thành hạng mục phát sinh lúc nghiệm thu. Là đơn vị tích hợp, đấu và thử toàn tuyến liên lạc trong sự phối hợp với hệ báo cháy và hệ thông báo, để ba hệ thống nói chuyện được với nhau khi cần. Là đơn vị bảo hành và bảo trì dài hạn, vì một hệ thống chỉ dùng tới khi khẩn cấp thì càng phải được kiểm tra đều đặn để chắc chắn nó còn sống. Và là đơn vị có sẵn kịch bản ứng cứu, để cái ngày phải dùng tới nó, mọi thứ đã được diễn tập chứ không được ứng biến.

Có những hạng mục trong một công trình mà giá trị của chúng không bao giờ hiện ra trong lúc bình thường. Chúng nằm im, tưởng như thừa, cho tới một buổi sáng có chuông báo cháy và một con người ngồi lại ở tầng mười hai. Nếu bạn đang xây, đang cải tạo, hoặc đang vận hành một toà nhà cao tầng, có một câu hỏi đáng để hỏi trước khi ai đó buộc phải trả lời nó bằng chính sự chờ đợi của mình: trong toà nhà của chúng ta, người ở lại có đường để gọi, và có ai đảm bảo tiếng gọi ấy sẽ được nghe không?