Bốn mươi centimet

Bốn mươi centimet

Về khoảng cách giữa cái micro và cái miệng, và vì sao nó quyết định gần như toàn bộ thiết kế nội thất của căn phòng anh đang vẽ

Bàn chủ tọa trong bản vẽ của anh dài sáu mét. Bảy ghế. Bảy cái micro cổ ngỗng.

Anh đã chọn loại micro thân mảnh, cần dài, để nó không cắt ngang tầm nhìn khi máy quay lia qua. Anh đã đẩy nó lùi về phía sau mặt bàn, để giữ cho khoảng trước mặt người ngồi được sạch sẽ.

Nghĩa là cái đầu thu của nó đang cách miệng người nói khoảng bốn mươi centimet.

Anh không nghĩ nhiều về con số đó. Nó là một quyết định thẩm mỹ, và nó có vẻ hợp lý.

Nhưng con số đó vừa quyết định xong toàn bộ số phận âm thanh của căn phòng. Và nếu không ai nói với anh điều này ngay bây giờ, thì đến ngày khánh thành, ai đó sẽ phải vặn nhỏ âm lượng xuống đến mức hàng ghế cuối không nghe được, chỉ để hệ thống đừng rú lên.

Vặn nhỏ tiếng không phải là giải pháp. Nó là sự đầu hàng.

Anh hỏi có phải cứ vặn nhỏ là hết hú không.

Đúng. Vặn đủ nhỏ thì chắc chắn hết hú. Vặn về không thì tuyệt đối không bao giờ hú nữa.

Nhưng đó không phải là câu trả lời, đó là sự thừa nhận thất bại. Bởi vì việc duy nhất mà hệ thống âm thanh tồn tại để làm là khuếch đại. Nếu cách chống hú là ngừng khuếch đại, thì anh đã bỏ tiền mua một hệ thống chỉ để tắt nó đi.

Và đây là điều tàn nhẫn: cái ngưỡng âm lượng mà tại đó hệ thống bắt đầu hú không phải là một hằng số của thiết bị. Nó là một hằng số của căn phòng, của cách bố trí, và trên hết, của cái khoảng cách bốn mươi centimet kia.

Nói cách khác: mức âm lượng tối đa mà hội trường của anh có thể đạt được đã được quyết định trên bản vẽ nội thất, từ rất lâu trước khi ai đó mua thiết bị.

Cái vòng lặp

Hãy hình dung điều đang xảy ra trong căn phòng đó, một cách chậm rãi.

Người ngồi ở bàn chủ tọa nói. Giọng của ông ta đi vào micro. Hệ thống khuếch đại nó lên và phát ra loa.

Âm thanh từ loa lan khắp phòng. Nó đến tai khán giả, đó là việc chúng ta muốn. Nhưng nó cũng lan ngược trở lại bàn chủ tọa, đập vào tường, dội xuống từ trần, và một phần của nó đi vào chính cái micro đang mở.

Cái micro không phân biệt được. Nó không biết đâu là giọng người và đâu là tiếng loa. Nó chỉ thu tất cả những gì chạm vào nó, rồi đưa vào hệ thống để khuếch đại tiếp.

Vậy là âm thanh từ loa được khuếch đại lần thứ hai. Rồi phát ra loa. Rồi lại vào micro. Rồi lại khuếch đại.

Nếu mỗi vòng như vậy, âm thanh quay lại yếu hơn lúc nó đi ra, thì vòng lặp tự tắt dần. Hệ thống ổn định.

Nhưng nếu có bất kỳ tần số nào mà tại đó âm thanh quay lại mạnh bằng hoặc mạnh hơn lúc đi ra, thì vòng lặp tự nuôi chính nó. Nó lớn dần, lớn dần, trong vòng chưa đến một giây, cho đến khi hệ thống chạm trần và rú lên.

Đó là tiếng hú. Nó không phải là một lỗi thiết bị. Nó là một hiện tượng cộng hưởng của cả căn phòng, và cái micro chỉ là cánh cửa mà qua đó căn phòng nghe thấy chính mình.

Và bây giờ là con số

Ở đây có một định luật vật lý mà anh đã biết, chỉ là chưa từng áp dụng nó vào chuyện này.

Cường độ âm thanh suy giảm theo bình phương khoảng cách. Đi xa gấp đôi thì năng lượng chạm tới còn một phần tư.

Bây giờ hãy áp nó vào cái micro của anh.

Giả sử người nói ghé sát micro, cách mười centimet. Giọng của ông ta chạm vào đầu thu ở một cường độ nào đó. Trong khi đó, tiếng loa dội về từ khắp phòng cũng chạm vào cái micro ấy ở một cường độ khác, và cường độ đó gần như không thay đổi dù micro nằm ở đâu trên mặt bàn, vì nó đến từ cả căn phòng chứ không đến từ một điểm.

Tỷ lệ giữa hai thứ đó, giọng người trên tiếng dội, chính là toàn bộ dư địa mà anh có để tăng âm lượng.

Bây giờ hãy kéo micro ra xa. Từ mười centimet thành hai mươi. Giọng người, theo định luật nghịch đảo bình phương, chỉ còn một phần tư. Tiếng loa dội thì gần như y nguyên.

Anh vừa mất ba phần tư dư địa. Chỉ bằng cách kéo cái micro ra xa thêm mười centimet.

Kéo tiếp ra bốn mươi centimet, cái con số trong bản vẽ của anh, thì so với vị trí sát miệng, giọng người chạm vào micro chỉ còn một phần rất nhỏ của cường độ ban đầu, trong khi tiếng dội vẫn nguyên vẹn.

Đây là lý do vì sao cái quyết định nội thất tưởng như vô hại đó lại là quyết định âm học quan trọng nhất trong cả căn phòng.

Mỗi centimet anh đẩy micro ra xa miệng người nói, anh đang trả bằng chính cái âm lượng mà hàng ghế cuối cần để nghe được.

Vậy tại sao không bắt tất cả ghé sát micro?

Vì đây là chỗ mà thực tế đâm vào lý thuyết, và thực tế luôn thắng.

Không một vị lãnh đạo nào chịu cúi gập người xuống ghé miệng vào cái micro trước ống kính máy quay. Không một diễn giả nào giữ đúng khoảng cách trong suốt bốn mươi phút. Người ta ngồi thẳng lưng, người ta quay đầu sang trái để nhìn đồng nghiệp, người ta ngả ra sau khi cười.

Và một cái micro cần dài chĩa thẳng vào mặt một vị bộ trưởng, trong một bức ảnh báo chí, là một hình ảnh mà không ai muốn.

Cho nên bài toán thật của nghề này không phải là bắt người ta ghé sát micro.

Bài toán thật là: làm sao để micro đứng xa mà hệ thống vẫn không hú.

Toàn bộ giá trị của một đơn vị làm âm thanh, ở phần lõi nhất, nằm ở chỗ họ đẩy được cái ranh giới đó ra bao xa.

Bởi vì mỗi centimet mà họ giành lại được là một centimet tự do trả về cho anh. Tự do để đặt micro ở chỗ đẹp. Tự do để giữ bàn chủ tọa sạch sẽ. Tự do để nói với chủ đầu tư rằng được, cái cần micro đó sẽ không cắt ngang mặt ông trong ảnh.

Ranh giới đó nằm ở đâu

Đây là chỗ mà tôi phải nói rõ một điều, và tôi sẽ nói thẳng thay vì vòng vo.

Cái ranh giới đó không giống nhau giữa các đơn vị. Nó không phải một hằng số của ngành. Nó là kết quả của việc một đội ngũ đã dành bao nhiêu năm để hiểu và kiểm soát cái vòng lặp mà tôi vừa mô tả.

Chúng tôi đã dành hơn hai mươi năm cho việc đó. Và ở những công trình có điều kiện thuận lợi, cự ly thu mà chúng tôi đạt được nằm ở mức mà đa số thị trường coi là không tưởng.

Cụ thể, ở những công trình có điều kiện phù hợp, chúng tôi đã đưa cự ly thu micro lên tới 160 centimet mà hệ thống vẫn giữ được biên độ an toàn trước ngưỡng hú. Đây là trần kỹ thuật trong điều kiện lý tưởng, không phải con số áp dụng cho mọi công trình.

Con số đó không phải là một mẹo. Không có một nút bấm nào, một thiết bị nào, một thương hiệu nào mua về là có được nó. Nếu có, thì cả thị trường đã có nó từ lâu.

Nó là kết quả của một cách tiếp cận nhiều tầng đối với chính cái vòng lặp đó, một cách tiếp cận mà chúng tôi mài ra qua rất nhiều công trình và rất nhiều lần thất bại.

Cách làm thì không có trên blog này, và sẽ không bao giờ có. Không phải để làm ra vẻ bí ẩn, mà vì đó là phần duy nhất trong toàn bộ nghề này thật sự là tài sản, và vì mỗi căn phòng lại đòi hỏi một lời giải khác.

Nhưng kết quả thì mang ra bàn được. Với bản vẽ thật của một công trình thật, trong một buổi ngồi xuống với nhau.


Điều anh nên làm trước cuộc họp tới

Trước khi anh chốt bản vẽ nội thất, hãy hỏi nhà thầu âm thanh của mình đúng một câu:

Với thiết kế này, cự ly thu tối đa mà anh bảo đảm được là bao nhiêu, và ở cự ly đó thì âm lượng tối đa của hệ thống là bao nhiêu trước khi chạm ngưỡng hú?

Hãy để ý điều gì xảy ra sau câu hỏi đó.

Một người bán thiết bị sẽ nói về thương hiệu. Về công suất. Về việc bộ xử lý này có tính năng chống hú tự động.

Một người thiết kế giải pháp sẽ hỏi ngược lại anh: cho tôi xem mặt cắt, cho tôi biết trần cao bao nhiêu, tường có phẳng không, và ai sẽ ngồi ở bàn chủ tọa.

Sự khác biệt giữa hai câu trả lời đó, thưa anh, chính là sự khác biệt giữa một hội trường nói được và một hội trường phải vặn nhỏ.

Và anh có thể nghe ra nó chỉ trong ba mươi giây, ngay tại cuộc họp, trước khi ký bất cứ thứ gì.

Nếu công trình anh đang cầm vẫn còn ở giai đoạn nội thất, hãy gửi cho chúng tôi mặt bằng bàn chủ tọa và mặt cắt phòng. Chúng tôi sẽ nói cho anh biết với bố trí hiện tại, anh đang tự khóa mình vào mức âm lượng nào, và cần thay đổi gì để giành lại những centimet mà anh chưa biết là mình vừa đánh mất.